Cây cẩu tích, hay một số nơi gọi là cây lông li, cây lông cu li … Cây có tên là cẩu tích là do xung quanh cây bao phủ một lớp lông màu vàng rất giống như lông con chó (Cẩu nghĩa là chó).

Ảnh chụp cây cẩu tích, cây lông cu li

Ảnh chụp cây cẩu tích, cây lông cu li

Khu vực phân bố

Cây mọc dải dác khắp các vùng miền núi nước ta, nhiều nhất vẫn là miền núi vùng tây Bắc như: Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Điên Biên, Hòa Bình, Thanh Hóa …..

Mô tả hình dáng

Cẩu tích là một loài quyết thực vật, cây có chiều cao thấp (Nhưng cũng có khi cao tới 2 mét), mọc ở tầng dưới cùng của các thảm thực vật. Bên ngoài cây bao phủ một lớp lông màu vàng, nếu nhìn không kỹ rất dễ nhầm tưởng đó là một con vật. Chính vì lý do này mà cây còn có tên là Lông cu ly (Cây có lông rất giống lông con cu li.

Người dân khai thác cây lông li

Người dân khai thác cây lông li

Bộ phận dùng làm thuốc

Gốc cây và phần lông vàng bao phủ xung quanh.

Cách chế biến và thu hái

Cây được thu hái quanh năm, người dân thường chặt bỏ toàn bộ cành, đào lấy toàn bộ phần bẹ và những vùng có lông vàng của cây bao phủ.

Cây đào từ rừng về đem rửa sạch, cắt bỏ phần rễ (Chỉ lấy phần củ và lông vàng) đem thái miếng phơi khô để làm thuốc.

Thời gian gần đây, người dân Hòa Bình dộ lên phong trào thu mua cẩu tích bán cho thương lái xuất sang Trung Quốc, nên hiện nay nguồn cẩu tích đã bắt đầu khan hiếm.

Thành phần hóa học

Chưa có nghiên cứu kỹ lưỡng nào về vị thuốc này, mà chỉ dựa chủ yếu vào kinh nghiệm dân gian.

Tính vị

Cây có vị đắng, tính ôn đi vào hai kinh can và thận (Bởi vậy cây thường được dùng trong các phương thuốc để bồi bổ can thận).

Ngoài ra lông cẩu tích còn dùng để cầm máu rất hiệu quả: Khi bị chảy máu chỉ cần lấy 1 ít lông này đắp vào vết thường là cầm được máu ngay. Tác dụng này có được là do lông cu li hút huyết thanh của máu, hình thành máu cục bởi vậy làm cho máu chóng đông.

Một số bài thuốc từ cây cu li

Cẩu tích có tên khoa học là Cibotium baromet J.Sm. Họ kim mao Dicksoniaceae, mọc hoang khắp nơi, vị đắng ngọt, tính ấm. Thuốc vào hai kinh can thận, ôn dương bổ thận, mạnh gân xương, chủ trị đau mỏi lưng gối, đái rắt, đái dầm, bạch đới; kỵ thận hư có nhiệt, hư hàn. Những bài thuốc có cẩu tích:

Trị đau lưng, gân mạch khớp chân khó cử động:

– Cẩu tích, đỗ trọng, khương hoạt, nhục quế mỗi thứ 30 g; tỳ giải, chế phụ tử, ngưu tất mỗi thứ 50 g; tang ký sinh 40 g. Rượu trắng 1.500 ml ngâm một tuần, lọc phần trong để uống. Hoặc ngâm 3 lần nhập lại để uống thì kinh tế hơn.

– Cẩu tích, khương hoạt, đỗ trọng, quế tâm, tang ký sinh, phụ tử chế mỗi thứ 30 g; tỳ giải, ngưu tất mỗi thứ 45 g. Rượu trắng 2.500 ml ngâm như trên (hai bài trên cùng công dụng, cùng thành phần, khác liều lượng).

Trị can thận hư suy, phong thấp lưng chân đau: Cẩu tích, đan sâm, hoàng kỳ mỗi thứ 30 g, đương quy 25 g, phòng phong 15 g; rượu trắng 1.000 ml.

Trị lưng đau, gối mỏi thuộc thận âm hư: Cẩu tích, thỏ ty tử, đương quy, phục linh, lượng bằng nhau. Nghiền thành bột, luyện mật ong thành viên 9 g. Ngày uống 3 lần. Mỗi lần 1-2 viên uống với nước sôi.

Bổ thận cường yêu (yêu = cột sống): Can thận bất túc, đau mỏi thắt lưng tiểu tiện luôn, phụ nữ đới hạ. Cẩu tích 16 g, ngưu tất, thỏ ty tử, sơn thù du, lộc giao (chưng), đỗ trọng mỗi thứ 12 g, thục địa 16 g. Sắc uống.

Lưng gối mỏi do thận can hư: Cẩu tích 10 g, sa uyển tử 12-15 g, đỗ trọng 10-12 g. Sắc uống ngày một thang.

Viêm cột sống tăng sinh có gai do can thận bất túc: Cẩu tích, bạch thược, thục địa, nhục thung dung, ngưu tất, cốt toái bổ mỗi thứ 15 g; sơn thù du, câu kỷ tử, nữ trinh tử, đương quy mỗi thứ 10 g; kê huyết đằng 30 g; mộc hương 6 g. Sắc uống ngày một thang.

Đau nhức tất cả các khớp to nhỏ (riêng từng khớp hoặc cùng lúc nhiều khớp vào buổi sáng ngủ dậy hoặc về chiều tối nhiều hơn):
Cẩu tích 30 g; cốt toái, huyết giác, độc hoạt, ngưu tất mỗi thứ 20 g; sinh địa, mạch môn, mộc qua, đan bì, cốt khí củ mỗi thứ 15 g.

Nếu đau lưng, nhức mỏi, gia thêm ba kích, tục đoạn, hà thủ ô mỗi thứ 12 g. Chân tê bì hay hơi nề, gia mộc thông, tỳ giải, thiên niên kiện mỗi thứ 12 g. Sưng khớp có sốt, gia hoàng đằng 12 g, bạch chỉ 6 g.
Đau đầu, khó ngủ, táo bón, huyết áp cao thêm quyết minh tử (hạt muồng sao) 24 g.

Các khớp tê buốt, sưng phát cước, sợ nước, sợ lạnh ăn kém tiêu, đại tiện lỏng: Cẩu tích, bạch chỉ, cốt toái, thiên niên kiện, độc hoạt, thương truật đều 15 g; bạch truật 20 g; xuyên khung, tô mộc, tùng hương hay nhũ hương, quế chi đều 10 g; phụ tử chế, cam thảo đều 8 g. Sắc uống hai ngày một thang.

Thông tin chỉ mang tính tham khảo, chúc các bạn luôn khỏe mạnh !